Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia phiên bản 1.0: “Tấm khiên số” tạo nền tảng phòng thủ mạng thống nhất, hiện đại
Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia (Phiên bản 1.0) đánh dấu bước tiến quan trọng trong xây dựng hệ thống phòng thủ không gian mạng đồng bộ, thống nhất trên phạm vi cả nước. Khung kiến trúc hướng tới tăng cường năng lực giám sát, điều phối, chia sẻ dữ liệu và ứng phó sự cố, góp phần bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và các hạ tầng số trọng yếu trước những nguy cơ, thách thức ngày càng phức tạp trên không gian mạng.
Ngày 30/9/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký ban hành Quyết định số 1875/QĐ-TTg về Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia (Phiên bản 1.0). Đây là cơ sở quan trọng để các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị xây dựng, triển khai các giải pháp công nghệ thành phần,bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất về kiến trúc an ninh mạng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin của từng cấp, từng ngành.
1. Thiết lập kiến trúc phòng thủ mạng thống nhất trên phạm vi toàn quốc
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và nền tảng số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này cũng làm gia tăng nguy cơ tấn công mạng, đánh cắp dữ liệu, gián đoạn dịch vụ và xâm phạm thông tin cá nhân.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ phương thức bảo vệ riêng lẻ từng hệ thống sang tổ chức phòng thủ có tính kết nối, chia sẻ và phối hợp thống nhất. Việc ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia là bước đi nhằm cụ thể hóa các thành phần an ninh mạng dùng chung trong Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, đồng thời hạn chế đầu tư phân tán, chồng chéo, gây lãng phí nguồn lực.
Theo định hướng của Khung kiến trúc, các thành phần dùng chung bao gồm nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia phục vụ giám sát, điều phối và chỉ huy ứng phó sự cố; nền tảng phòng vệ mạng quốc gia; hạ tầng bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu đầu cuối và các hệ thống chuyên ngành an ninh mạng thuộc nhóm nền tảng số dùng chung quốc gia.
Các thành phần này hướng tới hình thành cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị, nâng cao khả năng phát hiện sớm nguy cơ, chia sẻ thông tin cảnh báo và tổ chức ứng phó khi xảy ra sự cố. Qua đó, công tác bảo vệ an ninh mạng từng bước được triển khai theo hướng chủ động, có khả năng liên thông và sử dụng hiệu quả nguồn lực chung.
2. Bốn lớp kiến trúc - nền tảng triển khai an ninh mạng từ Trung ương đến địa phương
Một nội dung đáng chú ý của Khung kiến trúc là đưa ra mô hình tham chiếu để các bộ, ngành, địa phương và tổ chức liên quan xây dựng, cập nhật thành phần an ninh mạng trong kiến trúc số của mình. Đối với cấp tỉnh, mô hình được tổ chức theo bốn lớp:
- Lớp 1 - Hạ tầng an ninh mạng cấp tỉnh: Là nền tảng kỹ thuật phục vụ triển khai các giải pháp bảo vệ, giám sát và vận hành an ninh mạng phù hợp với quy mô và yêu cầu thực tế của từng tỉnh.
- Lớp 2 - Dữ liệu an ninh mạng cấp tỉnh: Tập trung tổ chức, quản lý và khai thác dữ liệu phục vụ giám sát, phân tích, cảnh báo và xử lý nguy cơ.
- Lớp 3 - Nền tảng ứng dụng, nghiệp vụ an ninh mạng cấp tỉnh: Đây là lớp công cụ tác nghiệp chính của Trung tâm an ninh mạng cấp tỉnh (do Công an tỉnh vận hành). Hỗ trợ triển khai các hoạt động nghiệp vụ, quản lý, giám sát và phối hợp ứng phó sự cố.
- Lớp 4 - Kênh tương tác và đo lường cấp tỉnh: Phục vụ công tác chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và tương tác với người dân địa phương; kết nối, trao đổi thông tin và theo dõi kết quả thực hiện các nhiệm vụ an ninh mạng.
Cấu trúc bốn lớp tạo cơ sở để địa phương tổ chức các thành phần an ninh mạng theo một mô hình thống nhất, bảo đảm khả năng liên thông với kiến trúc quốc gia, đồng thời phù hợp với điều kiện hạ tầng, nguồn lực và yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin trên địa bàn.
Đối với các bộ, ngành và tổ chức trong hệ thống chính trị, Khung kiến trúc cũng đưa ra mô hình tham chiếu gồm bốn lớp tương ứng, cho phép điều chỉnh theo đặc thù quản lý ngành dọc, lĩnh vực chuyên môn và yêu cầu bảo mật riêng.
Điểm cốt lõi là việc xây dựng, nâng cấp các hệ thống an ninh mạng không chỉ nhằm tăng cường trang thiết bị hay bổ sung phần mềm bảo vệ, mà cần hướng tới một kiến trúc tổng thể, trong đó hạ tầng, dữ liệu, nền tảng nghiệp vụ và cơ chế phối hợp được thiết kế đồng bộ. Các cơ quan, đơn vị cần chú trọng kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát theo quy định; đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh mạng theo cấp độ hệ thống thông tin; đồng thời tận dụng các thành phần dùng chung, tránh đầu tư trùng lặp.
3. Chủ động triển khai tại địa phương, nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng
Việc ban hành Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia đặt ra yêu cầu các địa phương rà soát kiến trúc số, hạ tầng công nghệ thông tin và các giải pháp bảo vệ đang vận hành để xác định lộ trình triển khai phù hợp.
Trước hết, cần rà soát, đánh giá hiện trạng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, hạ tầng mạng và các nền tảng số; xác định những điểm còn thiếu, chưa đồng bộ hoặc chưa đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch cập nhật kiến trúc an ninh mạng cấp tỉnh theo mô hình tham chiếu, gắn với quy hoạch và kế hoạch chuyển đổi số của địa phương.
Cùng với đầu tư hạ tầng, cần chú trọng tổ chức dữ liệu phục vụ giám sát, tăng cường năng lực phát hiện và cảnh báo sớm, hoàn thiện quy trình phối hợp xử lý sự cố, nâng cao khả năng phục hồi hoạt động của các hệ thống thông tin thiết yếu. Việc triển khai phải gắn với phân công rõ trách nhiệm quản lý, vận hành; bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và thông tin thuộc phạm vi hạn chế tiếp cận; bảo đảm các hoạt động kết nối, chia sẻ dữ liệu tuân thủ quy định pháp luật.

Đối với lực lượng Công an, cần phát huy vai trò trong tham mưu, hướng dẫn và phối hợp thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng theo chức năng, thẩm quyền; tăng cường kiểm tra, đánh giá nguy cơ, phối hợp giám sát, cảnh báo và ứng phó sự cố. Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, các chủ quản hệ thống thông tin và đơn vị vận hành để bảo đảm kiến trúc được triển khai đồng bộ, thực chất.
Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tổ chức diễn tập ứng phó sự cố và tăng cường chia sẻ thông tin cảnh báo cũng là những nhiệm vụ cần được quan tâm. Hiệu quả triển khai không chỉ được đánh giá qua mức độ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật mà còn phải thể hiện ở khả năng phát hiện, xử lý nguy cơ kịp thời, giảm thiểu thiệt hại và duy trì hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin.
Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia (Phiên bản 1.0) là cơ sở quan trọng để từng bước hình thành phương thức bảo vệ không gian mạng thống nhất, đồng bộ và hiệu quả hơn. Việc tổ chức triển khai nghiêm túc, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương, bộ, ngành sẽ góp phần nâng cao năng lực phòng thủ mạng, bảo vệ dữ liệu và củng cố nền tảng an ninh cho tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, việc triển khai Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia cần gắn với yêu cầu bảo vệ các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phục vụ hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền địa phương hai cấp. Trong đó, Công an tỉnh là lực lượng chuyên trách theo chức năng, nhiệm vụ được giao, cần chủ động tham mưu UBND tỉnh tổ chức rà soát hiện trạng, xây dựng và cập nhật thành phần an ninh mạng trong Khung kiến trúc số cấp tỉnh; phối hợp với cơ quan chuyên môn về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số triển khai cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng, nâng cao năng lực phát hiện sớm, cảnh báo nguy cơ và phối hợp ứng cứu, xử lý sự cố. Đồng thời, cần hoàn thiện quy chế phối hợp, quy trình trao đổi thông tin và phương án ứng phó sự cố giữa Công an tỉnh, các sở, ban, ngành, UBND cấp xã và đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thông tin; chú trọng bảo vệ các hệ thống, cơ sở dữ liệu quan trọng, bảo đảm hoạt động liên tục, an toàn và thông suốt. Quá trình triển khai phải ưu tiên kế thừa, kết nối các nền tảng dùng chung quốc gia theo hướng dẫn của Bộ Công an, tránh đầu tư riêng lẻ, trùng lặp; gắn trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị với yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản trị số tại địa phương.
Văn Thắng

