Những điều suy ngẫm từ một cuốn sách và sóng ngầm dưới nền văn hóa - tư tưởng
Những ngày gần đây, từ một cuốn tiểu thuyết tưởng đã nằm yên suốt ba thập kỷ, dư luận bỗng dậy lên những làn sóng không nhỏ. Kẻ tán dương hết lời, người trăn trở phản đối cũng chẳng tiếc sức, khiến một câu chuyện tưởng thuần túy thuộc về văn chương lại mở ra biết bao suy ngẫm rộng lớn hơn về văn hóa, tư tưởng và cách chúng ta gìn giữ di sản tinh thần của dân tộc. Giữa những lời qua tiếng lại ấy, trộm nghĩ: điều cần suy ngẫm không nằm hết trong mấy dòng chữ in trên trang sách, mà ở cách xã hội hôm nay đặt chúng vào dòng chảy văn hóa đương đại.
Văn chương có quyền soi vào những nỗi đau thầm kín, gợi lên những bóng tối mà đời sống thường ngày đôi khi né tránh. Nhưng lịch sử thì không thể chạm đến một cách tùy tiện. Lịch sử là nền tảng tư tưởng của dân tộc, là nơi khắc ghi chính nghĩa của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, là không gian linh thiêng nơi hình tượng Bộ đội Cụ Hồ được gìn giữ bằng máu và danh dự. Bởi vậy, khi một tác phẩm mô tả người lính bằng những chi tiết tàn bạo hoặc sa đọa, rồi bị các thế lực thù địch, báo chí phản động, những kẻ bại trận năm xưa hay nhóm xét lại lịch sử lợi dụng như “bằng chứng văn chương” để phủ nhận chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng, thì tác phẩm ấy không còn dừng lại trong phạm vi mỹ học thuần túy. Nó đã trở thành một mảnh ghép trong chiến lược diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, bất luận chủ ý ban đầu của tác giả là vô tình hay hữu ý.

Nhà trường vốn là nơi gieo những mầm non thuần khiết. Một đoạn văn, một trang sách khi chạm đến lịch sử sẽ trở thành điểm tựa đầu tiên để học trò hình dung về cha anh. Những mô tả dễ gây ngộ nhận, những lát cắt có thể bị kẻ xấu lợi dụng, nếu không được cân nhắc cẩn trọng, rất dễ gieo vào tâm trí non trẻ những nhận thức lệch lạc. Khi thế hệ mới còn chưa đủ trải nghiệm để phân biệt đâu là hư cấu nghệ thuật, đâu là sự bóp méo cố tình, đâu là thủ pháp sáng tác, đâu là ý đồ bị lợi dụng, thì trách nhiệm của người biên soạn, người giảng dạy càng phải nghiêm cẩn gấp bội.
Lại nghe những tiếng thở dài từ các cựu chiến binh – những người đã gửi tuổi xuân cho chiến trận. Họ không oán trách văn chương; họ chỉ lo cho danh dự của đồng đội đã khuất – những người còn nằm lại nơi chiến trường với tấm bia “Liệt sĩ chưa biết tên”, chẳng thể tự mình lên tiếng bảo vệ. Họ lo cho sự trong sạch của lý tưởng mà họ từng mang trên vai. Họ sợ hậu thế, chỉ vì vài trang viết thiếu thận trọng, sẽ hiểu sai cái tinh anh của một thời đại, cái khí phách đã làm nên chiến thắng. Những nỗi lo như thế, lẽ nào không đáng để người làm quản lý suy ngẫm?

Một tác phẩm văn học tự nó không đủ sức làm chao đảo nền tảng tư tưởng quốc gia. Nhưng cách ta đặt tác phẩm ấy vào đời sống – cách thẩm định, cách giảng dạy, cách tôn vinh – lại có thể trở thành phép thử cho bản lĩnh quản lý, cho sự tinh tế trong bảo vệ chính nghĩa và ký ức cộng đồng. Danh không chính, định không nghiêm, mọi bước đi sai lầm đều có thể tạo ra lệch lạc.
Giữ gìn lịch sử không chỉ bằng lời tuyên thệ, mà bằng sự nhất quán trong từng quyết định. Giữ gìn hình tượng người lính không chỉ bằng cảm xúc bộc phát, mà bằng bảo đảm rằng những gì được trao vào tay học sinh đều xứng đáng với máu xương của bao thế hệ. Giữ gìn nền tảng tư tưởng dân tộc không chỉ bằng khẩu hiệu, mà bằng một hệ thống quản lý văn hóa – giáo dục đủ minh triết, thận trọng, nhạy bén và cảnh giác trước những biến động tư tưởng len lỏi từng ngày. Với người hữu tâm, một lời là đủ hiểu. Với người có trách nhiệm, một sự việc là đủ để soi. Lịch sử vẫn đứng đó – lặng lẽ mà sáng ngời; điều quan trọng là trong những lựa chọn hôm nay, liệu chúng ta có giữ được cho lịch sử sự trong sạch mà bao thế hệ đã đánh đổi bằng sinh mệnh hay không.
ANCT

