Thông tư 172/2026/TT-BCA: Những điểm mới nhằm tạo thuận lợi cho người dân khi thực hiện quyền khiếu nại
Từ ngày 21/11/2026, Thông tư số 172/2026/TT-BCA ngày 07/10/2026 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân chính thức có hiệu lực và thay thế Thông tư số 23/2022/TT-BCA, nhằm quy định cụ thể các biện pháp thực hiện để phù hợp với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thống nhất chức năng quản lý nhà nước của Bộ trưởng Bộ Công an trong công tác giải quyết khiếu nại, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Dưới đây là một số nội dung cơ bản, mới của Thông tư, cụ thể:
- Về quy định chung: Bổ sung “Điều 4. Rút khiếu nại
1. Người khiếu nại có thể rút toàn bộ nội dung khiếu nại hoặc một phần nội dung khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Việc rút khiếu nại được thực hiện bằng đơn hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại. Đơn rút khiếu nại, biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại và gửi đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại có trách nhiệm xác định chữ ký hoặc điểm chỉ trong đơn rút khiếu nại là của người khiếu nại.
2. Xử lý việc rút khiếu nại như sau:
a) Trường hợp người khiếu nại rút toàn bộ nội dung khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại, việc ban hành quyết định đình chỉ và thông báo quyết định đình chỉ thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28b Nghị định số 124/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2026/NĐ-CP;
b) Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại tiếp tục được giải quyết.
Nếu chưa có thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại không xem xét nội dung khiếu nại đã rút. Nếu đã có thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại dừng việc giải quyết khiếu nại đối với nội dung khiếu nại đã rút; người xác minh nội dung khiếu nại khi nhận được đơn rút khiếu nại hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại phải có văn bản báo cáo người giải quyết khiếu nại dừng việc giải quyết khiếu nại đã rút theo quy định;
c) Trường hợp nhiều người khiếu nại về một nội dung mà có một hoặc một số người khiếu nại rút khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại thực hiện theo quy định tại điểm b khoản này; việc giải quyết khiếu nại vẫn được tiếp tục đối với những khiếu nại còn lại; người khiếu nại đã rút khiếu nại không được tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại theo quy định tại Điều 12 Luật Khiếu nại;
d) Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung mà toàn bộ người khiếu nại rút khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại
3. Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa.”

- Về thụ lý giải quyết khiếu nại: Tại khoản 1 Điều 7, sửa đổi nội dung “10 ngày làm việc” bằng “07 ngày làm việc” theo quy định mới tại điểm b khoản 15 Điều 2 Luật số 136/2025/QH15.
- Điểm mới trong việc tiến hành xác minh nội dung khiếu nại: Quy định tại “Điều 18. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại
1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 11a Luật Khiếu nại, đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại.
2. Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại phải nêu rõ lý do, căn cứ pháp luật và gửi cho nhiều người khiếu nại, người đại diện hợp pháp của người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành. Đối với người khiếu nại thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 11a Luật Khiếu nại thì người giải quyết khiếu nại gửi quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân thường trú cuối cùng trước khi chết hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức có trụ sở chính ngay trước khi giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động. Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại được thực hiện theo Mẫu số 14a ban hành kèm theo Nghị định số 124/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2026/NĐ-CP.
3. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại phải ban hành ngay quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại và gửi cho người khiếu nại, người đại diện hợp pháp của người khiếu nại, người bị khiếu nại và người có quyền, nghĩa vụ có liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành; thời gian tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại không được tính vào thời gian giải quyết khiếu nại. Quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại được thực hiện theo Mẫu số 14b ban hành kèm theo Nghị định số 124/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2026/NĐ-CP.”
- Về tổ chức đối thoại: Tại điểm a khoản 2 Điều 20, sửa đổi nội dung “trước 03 ngày làm việc” bằng “trước ít nhất 05 ngày” theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 155/2026/NĐ-CP; tại khoản 3 Điều 20, bổ sung cụm từ “trường hợp người khiếu nại không tham gia đối thoại thì ghi rõ có lý do hoặc không có lý do” cho phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 155/2026/NĐ-CP; tại khoản 4 Điều 20, bổ sung cụm từ “lập biên bản chấm dứt đối thoại có xác nhận của những người tham dự” theo quy định tại khoản 11 Điều 2 của Luật Khiếu nại được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 136/2025/QH15.
- Ngoài ra, quy định mới tại “Điều 26. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết khiếu nại: Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 155/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP” theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 155/2026/NĐ-CP.
Duy Phúc

